Câu 1: Một phòng thực hành Tin học mới được xây dựng để phục vụ môn học thiết kế Web. Phòng có 30 máy tính cho học sinh và 1 máy tính cấu hình cao cho giáo viên. Hạ tầng mạng được cấp gồm 2 thiết bị Switch (mỗi thiết bị 24 cổng) và 1 Router cáp quang có kết nối Internet.
Nhận định:
a) Có thể kết nối toàn bộ 31 máy tính này vào cùng một mạng nội bộ (LAN) bằng cách sử dụng một sợi cáp mạng nối hai Switch lại với nhau.
b) Sau khi dùng 1 sợi cáp để nối hai Switch với nhau, hệ thống này cung cấp tổng cộng 46 cổng trống vật lý để cắm 31 máy tính và các thiết bị khác.
c) Thiết bị Router cấp cho phòng máy đóng vai trò định tuyến gói tin, giúp 30 máy học sinh có thể tra cứu mã nguồn thiết kế Web trên Internet.
d) Nếu thiết bị Router bị hỏng hoặc mất nguồn, máy tính giáo viên hoàn toàn không thể gửi bài tập qua mạng nội bộ cho 30 máy tính học sinh.
Câu 2: Một doanh nghiệp nhỏ thuê một văn phòng 2 tầng. Tầng 1 là phòng Kinh doanh có 15 máy tính nhân viên, tầng 2 là phòng Kế toán có 10 máy tính. Doanh nghiệp trang bị 2 Switch (mỗi cái 24 cổng) đặt ở hai tầng. Tầng 1 được trang bị thêm 1 Router nối Internet đóng vai trò làm máy chủ cấp địa chỉ IP động (DHCP).
Nhận định:
a) 10 nhân viên phòng Kế toán ở tầng 2 chỉ cần cắm cáp mạng từ máy tính vào Switch tầng 2 là đã tạo thành một mạng LAN cục bộ cho phòng Kế toán.
b) Nếu không kéo cáp liên kết giữa Switch tầng 2 và hạ tầng mạng tầng 1, 10 nhân viên Kế toán vẫn có thể được cấp địa chỉ IP từ Router tầng 1 thông qua sóng Wi-Fi của Switch.
c) Để 15 nhân viên Kinh doanh và 10 nhân viên Kế toán chia sẻ chung một thư mục dữ liệu, bắt buộc phải có một đường cáp mạng kết nối Switch tầng 2 với Switch (hoặc Router) tầng 1.
d) Khi máy tính nhân viên Kinh doanh gửi email ra ngoài Internet, dữ liệu phải đi qua Switch tầng 1 rồi mới đến Router để đi ra ngoài.
Câu 3: Quán cà phê sách "Trí Tuệ" rộng 300 mét vuông, phục vụ tối đa 150 thiết bị của khách cùng lúc. Để phủ sóng mạng, chủ quán sử dụng 1 Modem cáp quang của nhà mạng đặt tại quầy thu ngân và lắp thêm 4 thiết bị Access Point (AP) rải rác ở 4 góc quán.
Nhận định:
a) Bốn thiết bị Access Point có chức năng chuyển đổi mạng có dây thành sóng vô tuyến để phục vụ kết nối cho điện thoại, laptop của khách hàng ở các góc xa.
b) Các thiết bị Access Point này có thể tự động hút sóng Internet từ trạm 4G ngoài trời mà không cần kết nối cáp mạng vật lý về Modem tại quầy thu ngân.
c) Nếu quán tháo 4 Access Point và chỉ phát Wi-Fi bằng duy nhất Modem ở quầy thu ngân, tín hiệu sóng mạng sẽ bị yếu hoặc xuất hiện điểm mù ở các góc tường.
d) Để khách hàng di chuyển giữa các khu vực trong quán không bị ngắt quãng kết nối, 4 thiết bị Access Point nên được cài đặt chung một tên mạng Wi-Fi (SSID).
Câu 4: Phòng máy chủ của trường đại học đang sử dụng 1 Switch 48 cổng để kết nối 40 máy chủ chuyên dụng. Nay trường nhận thêm 10 máy chủ mới nhưng Switch cũ chỉ còn 8 cổng trống. Quản trị viên quyết định mua thêm một Switch 16 cổng để mở rộng hệ thống mạng LAN phục vụ đủ cho 50 máy chủ.
Nhận định:
a) Để toàn bộ 50 máy chủ cùng nằm trong một mạng LAN, quản trị viên chỉ cần lấy một sợi cáp mạng cắm nối 1 cổng trên Switch 48 với 1 cổng trên Switch 16.
b) Sau khi liên kết hai Switch bằng cáp nối tiếp (cascading), tổng số cổng trống còn lại chưa sử dụng của cả hệ thống Switch (sau khi cắm đủ 50 máy chủ) là 14 cổng.
c) Để 10 máy chủ cắm trên Switch 16 cổng giao tiếp được với 40 máy chủ cắm trên Switch 48 cổng, bắt buộc phải lắp thêm thiết bị Hub ở giữa hai Switch.
d) Toàn bộ 50 máy chủ này vẫn thuộc chung một mô hình mạng cục bộ (LAN) của phòng máy chủ trường đại học.
Câu 5: Một xưởng phim đồ họa có 5 máy tính trạm chuyên dựng video 4K. Xưởng thiết lập mạng nội bộ bằng 1 Switch Gigabit (tốc độ tối đa 1000 Mbps) và kết nối 5 máy tính vào Switch này bằng cáp mạng chuẩn Cat6. Xưởng dùng một Router để nối mạng LAN này với cáp quang Internet.
Nhận định:
a) Chuẩn cáp mạng Cat6 mà xưởng sử dụng hoàn toàn đáp ứng được khả năng truyền tải với tốc độ Gigabit của Switch.
b) Khi máy tính số 1 sao chép một file video nặng 50GB sang máy tính số 2 qua mạng LAN nội bộ, tốc độ truyền tải nhanh hay chậm do gói cước Internet của nhà mạng quyết định.
c) Nhờ tính năng phân giải địa chỉ MAC của Switch, file video được chuyển trực tiếp từ máy gửi đến máy nhận mà không bị phát tán làm nghẽn 3 máy tính còn lại.
d) Trong mô hình kết nối này, nếu máy tính trạm số 5 bị hỏng card mạng, toàn bộ mạng nội bộ chia sẻ file giữa 4 máy tính còn lại sẽ ngừng hoạt động.
Câu 6: Tại một tòa nhà văn phòng 3 tầng, hệ thống mạng được thiết kế tập trung: Router trung tâm ở tầng 1 nối Internet và được cấu hình làm máy chủ DHCP. Tầng 2 và tầng 3 đặt hai thiết bị Switch để chia cổng cáp mạng cho máy tính nhân viên. Các Switch được nối cáp trực tiếp xuống Router.
Nhận định:
a) Thiết bị Switch ở tầng 2 không có khả năng tự sinh ra địa chỉ IP động, mà các máy tính ở tầng 2 phải xin IP từ Router ở tầng 1.
b) Nếu cáp Uplink nối từ Switch tầng 3 xuống Router bị đứt, các máy tính ở tầng 3 vẫn có thể truy cập Internet nhờ tính năng tự động định tuyến của Switch.
c) Toàn bộ máy tính ở tầng 3 khi truy cập Internet sẽ phải dùng chung và chia sẻ băng thông của đường cáp mạng duy nhất nối từ Switch tầng 3 xuống Router.
d) Thiết bị Router ở tầng 1 trong hệ thống này vừa đóng vai trò cấp phát IP LAN, vừa làm nhiệm vụ định tuyến gói tin từ tòa nhà đi ra mạng WAN bên ngoài.
Câu 7: Trong bài thực hành thiết lập mạng LAN không dây, nhóm học sinh được mượn 5 chiếc laptop, 1 thiết bị Access Point (AP) và 1 Router cáp quang có mạng Internet. Yêu cầu đặt ra là 5 laptop phải chia sẻ được thư mục cho nhau và cùng lên mạng được thông qua Wi-Fi.
Nhận định:
a) Để 5 laptop kết nối vào mạng, nhóm học sinh cần thiết lập tên mạng (SSID) và mật khẩu bảo mật trên thiết bị Access Point.
b) Trong mô hình này, Access Point đóng vai trò chuyển đổi dữ liệu từ tín hiệu điện (trên cáp nối với Router) thành tín hiệu sóng vô tuyến đến 5 laptop.
c) Nếu nhóm học sinh quên cắm dây cáp nối từ Access Point vào Router, 5 laptop kết nối vào Access Point sẽ không thể tạo thành mạng LAN nội bộ để chia sẻ file.
d) Thiết bị Router đóng vai trò định tuyến dữ liệu, quyết định gói tin nào đi nội bộ và gói tin nào từ 5 laptop được phép đi ra Internet.
Câu 8: Trung tâm giám sát an ninh thành phố lắp đặt hệ thống 60 camera IP độ nét cao ngoài đường. Để truyền tín hiệu hình ảnh trực tiếp về máy chủ trung tâm, toàn bộ 60 camera này được kết nối bằng cáp mạng vào các Switch loại 24 cổng, các Switch nối tiếp về trung tâm.
Nhận định:
a) Để cung cấp đủ cổng vật lý cắm cho 60 dây cáp từ camera (chưa tính các cổng dùng để kết nối giữa các Switch), trung tâm cần trang bị tối thiểu 3 thiết bị Switch loại 24 cổng.
b) Khi kết nối nối tiếp 3 Switch loại 24 cổng lại với nhau thành một chuỗi, mỗi liên kết giữa 2 Switch sẽ "ăn" mất 2 cổng mạng vật lý của hệ thống.
c) Mặc dù là camera, các thiết bị này vẫn là một dạng nút mạng (Node) và bắt buộc phải có địa chỉ IP để gửi dữ liệu hình ảnh về đúng máy chủ trên nền tảng TCP/IP.
d) Việc chia nhỏ 60 camera ra cắm vào nhiều Switch giúp mở rộng khoảng cách kéo cáp vật lý thay vì phải kéo 60 sợi dây dài hàng cây số về chung một điểm.
Câu 9: Để tổ chức vòng chung kết giải eSports, ban tổ chức thiết lập mạng nội bộ cho 100 máy tính thi đấu. Yêu cầu cao nhất là đường truyền phải có độ trễ cực thấp (ping tĩnh) và ổn định. Họ triển khai 4 Switch 48 cổng kết nối tập trung bằng cáp mạng về 1 Router tổng.
Nhận định:
a) Giải pháp dùng cáp mạng nối từ 100 máy tính vào các Switch đáp ứng được yêu cầu về độ trễ thấp và ổn định tốt hơn so với việc kết nối 100 máy bằng Wi-Fi.
b) Chức năng chính của Router tổng trong giải đấu này là trực tiếp truyền hình ảnh từ màn hình máy tính của tuyển thủ này sang máy tính tuyển thủ khác.
c) Thiết bị Switch nhận dữ liệu từ một máy tính và chỉ đẩy gói dữ liệu đó đến đúng cổng của máy đích (thông qua địa chỉ MAC), giúp mạng giải đấu không bị nghẽn do truyền tràn lan.
d) Nếu sử dụng 4 Switch 48 cổng, ban tổ chức có tổng cộng 192 cổng mạng, hoàn toàn dư dả để cung cấp kết nối cho 100 máy thi đấu và các thiết bị quản lý khác.
Câu 10: Phòng kế toán có 8 máy tính bàn và 1 máy in mạng (có cổng mạng LAN). Quản trị viên không mua Switch mà quyết định sử dụng 4 cổng LAN tích hợp sẵn mặt sau của một chiếc Modem quang (do nhà mạng cấp) để thiết lập hạ tầng mạng cho phòng này.
Nhận định:
a) Vì Modem quang này chỉ có 4 cổng LAN mặt sau, nên quản trị viên không thể cắm trực tiếp cáp mạng cho cả 8 máy tính và 1 máy in vào Modem cùng lúc.
b) Để kết nối có dây cho toàn bộ 9 thiết bị đầu cuối này, quản trị viên bắt buộc phải mua sắm thêm một thiết bị chia mạng (ví dụ như Switch 16 cổng).
c) Khi được kết nối chung vào mạng vật lý, máy in mạng không cần cài đặt địa chỉ IP nội bộ mà vẫn tự động in được dữ liệu từ 8 máy tính bàn.
d) Máy tính gửi tài liệu báo cáo đến máy in qua cáp mạng là quá trình truyền tải dữ liệu ứng dụng giao thức mạng TCP/IP.
Câu 11: Hệ thống trường học ABC có Cơ sở 1 và Cơ sở 2 cách nhau 5km. Cả hai cơ sở đều có mạng LAN độc lập nội bộ tốc độ cao. Trường muốn kết nối mạng hai cơ sở lại để đồng bộ cơ sở dữ liệu học sinh thông qua mạng Internet diện rộng (WAN).
Nhận định:
a) Thiết bị đóng vai trò cửa ngõ (Gateway) để đưa mạng LAN của mỗi cơ sở kết nối vào hạ tầng mạng WAN của nhà cung cấp Internet (ISP) chính là Router (hoặc Modem).
b) Phương pháp bảo mật và tối ưu nhất để kết nối hai cơ sở cách nhau 5km là kéo một sợi cáp đồng chuẩn Cat6 nối trực tiếp Switch của Cơ sở 1 với Switch của Cơ sở 2.
c) Khi đồng bộ dữ liệu, gói tin từ máy tính Cơ sở 1 đi sang Cơ sở 2 phải đi qua cơ sở hạ tầng truyền tải cáp quang của nhà cung cấp dịch vụ mạng (ISP).
d) Trong quá trình truyền dữ liệu từ cơ sở này sang cơ sở kia qua mạng WAN, giao thức IP là giao thức đảm nhiệm việc tìm đường (định tuyến) cho các gói tin.
Câu 12: Trong tiết Tin học thực hành, phòng máy có 20 máy tính kết nối vào 1 Switch 24 cổng. Bỗng nhiên toàn bộ máy mất kết nối Internet, tuy nhiên học sinh phát hiện vẫn có thể nhìn thấy và lấy được tài liệu trong thư mục chia sẻ nội bộ của giáo viên. Giáo viên quan sát thấy đèn cổng Uplink trên Switch (dùng nối ra Router) bị tắt.
Nhận định:
a) Dựa trên hiện tượng mạng LAN vẫn hoạt động bình thường, chắc chắn thiết bị Switch 24 cổng của phòng máy không bị hỏng hóc tổng thể.
b) Đèn cổng Uplink tắt báo hiệu kết nối vật lý từ Switch ra Router đã mất, nguyên nhân có thể do đứt cáp nối, lỏng đầu bấm hoặc Router gặp sự cố nguồn điện.
c) Vì học sinh vẫn lấy được tài liệu nội bộ, sự cố đứt mạng Internet này không phải do hệ điều hành của 20 máy tính học sinh bị lỗi card mạng.
d) Giải pháp kỹ thuật để sửa lỗi mất Internet này là giáo viên phải khởi động lại (restart) toàn bộ 20 máy tính của học sinh thì đèn Uplink trên Switch sẽ sáng lại.
Câu 13: Một tòa chung cư thông minh triển khai hệ thống nhà thông minh (Smart Home) với 200 cảm biến không dây (nhiệt độ, rò rỉ khí gas, báo cháy) rải đều các tầng. Để điều khiển, tòa nhà bố trí mỗi tầng 1 Router Wi-Fi hoạt động ở chế độ Access Point, nối mạng tập trung về phòng máy chủ.
Nhận định:
a) Các cảm biến báo cháy, nhiệt độ này gửi dữ liệu cảnh báo về máy chủ trung tâm thông qua tín hiệu sóng điện từ (Wi-Fi) thay vì đi dây cáp mạng đồng.
b) Việc lắp đặt thêm thiết bị Access Point ở mỗi tầng là để mở rộng vùng phủ sóng Wi-Fi, đảm bảo cảm biến ở các khu vực khuất góc vẫn kết nối được.
c) Khi cảm biến rò rỉ khí gas ở tầng cao nhất phát tín hiệu, tín hiệu vô tuyến này truyền thẳng một mạch xuyên qua các trần nhà bê tông để về tới phòng máy chủ tầng 1 mà không cần qua cáp mạng trục chính.
d) Các thiết bị thông minh và Access Point trong tòa nhà này trao đổi dữ liệu với nhau dựa trên nền tảng của bộ giao thức mạng TCP/IP.
Câu 14: Mạng LAN Gigabit của một phòng khám chuyên khoa gồm 1 Máy chủ lưu trữ hình ảnh X-quang và 30 máy tính của bác sĩ. Máy chủ và 30 máy tính này cùng cắm trực tiếp cáp mạng vật lý vào một thiết bị Switch chia cổng duy nhất hỗ trợ băng thông tối đa 1000Mbps trên mỗi cổng.
Nhận định:
a) Để 30 máy tính của bác sĩ có thể gửi yêu cầu tra cứu chính xác, Máy chủ lưu trữ X-quang bắt buộc phải được gán một địa chỉ IP nội bộ cố định.
b) Băng thông 1000Mbps của Switch sẽ chia đều theo định mức cứng, nghĩa là mỗi máy tính của bác sĩ luôn bị khóa tốc độ tải file tối đa ở mức xấp xỉ 33Mbps.
c) Nếu cả 30 bác sĩ đồng loạt bấm nút tải về các tấm phim X-quang nặng hàng Gigabyte, cổng mạng của Máy chủ kết nối với Switch có nguy cơ bị quá tải (nghẽn cổ chai).
d) Nếu tuyến cáp quang kết nối từ phòng khám ra mạng Internet thế giới bị đứt, các bác sĩ vẫn hoàn toàn xem bình thường được hình ảnh X-quang lưu trong Máy chủ nội bộ.
Câu 15: Gia đình anh Ân xây nhà mới 3 tầng. Đường dây cáp quang Internet được nhà mạng kéo đến đặt tại Tầng 1 và nối vào Modem ONT kiêm phát Wi-Fi. Ở Tầng 3, anh Ân sử dụng 1 máy tính để bàn (PC) không có card Wi-Fi. Các tầng đều sử dụng điện thoại thông minh kết nối mạng.
Nhận định:
a) Thiết bị Modem ONT ở Tầng 1 có chức năng giải mã tín hiệu quang học từ đường dây của nhà mạng thành tín hiệu mạng kỹ thuật số cung cấp cho gia đình.
b) Để PC ở Tầng 3 kết nối được Internet ổn định nhất, anh Ân bắt buộc phải mua cáp xoắn đôi luồn tường từ cổng LAN của Modem Tầng 1 kéo lên cắm vào PC.
c) Thiết bị Modem nhà mạng này đóng luôn vai trò của Router (DHCP) khi tự động cung cấp địa chỉ IP động cho các thiết bị điện thoại thông minh nối vào mạng Wi-Fi.
d) Do sóng Wi-Fi gặp vật cản là trần bê tông giữa các tầng, nên điện thoại kết nối Wi-Fi ở Tầng 3 sẽ có cường độ tín hiệu tốt và tốc độ nhanh hơn nhiều so với Tầng 1.
Câu 16: Bạn A thiết lập một mạng LAN nhỏ gọn cho phòng trọ gồm 4 máy tính laptop. A đã bấm dây mạng nối thẳng từ cổng LAN của 4 laptop vào 4 cổng trên một chiếc Switch nhỏ. Khi cắm nguồn, đèn cổng mạng đều sáng xanh, nhưng 4 máy tính không thể PING thấy nhau cũng như không sao chép được dữ liệu nội bộ.
Nhận định:
a) Switch là thiết bị chia cổng ở mức vật lý, do A chưa đặt địa chỉ IP tĩnh nội bộ cùng dải mạng cho 4 laptop nên chúng không thể nhận diện định tuyến cục bộ với nhau.
b) Đặc tính của thiết bị Switch là chỉ kết nối máy tính ra Internet, nên nếu không cắm thêm Router thì 4 laptop này vĩnh viễn không thể tạo thành mạng LAN.
c) Một nguyên nhân khiến 4 laptop không PING thấy nhau có thể do hệ điều hành (như Windows) trên các máy tính đang bật tường lửa (Firewall) chặn giao thức chia sẻ tệp tin trong mạng công cộng.
d) Tính năng chống xung đột tín hiệu của Switch ngăn cản máy A gửi dữ liệu đồng thời cho máy B và máy C, dẫn đến tình trạng mạng tê liệt cục bộ.
Câu 17: Khảo sát kiến trúc mạng của một tập đoàn tài chính, chuyên gia đánh giá cao việc sử dụng mô hình Switch phân tầng: Một Router tổng cực mạnh cấp mạng cho các Switch phân phối (Distribution Switch) tại mỗi tầng nhà, từ đó cáp nhánh tiếp nối ra các Switch truy cập (Access Switch) ở từng dãy bàn làm việc của nhân viên.
Nhận định:
a) Để đảm bảo tính bảo mật khi giao dịch tài chính, máy tính của nhân viên cấp cao phải dùng cáp xoắn đôi kéo cắm trực tiếp vào Router tổng chứ không được cắm qua Switch.
b) Các Switch truy cập (Access Switch) nằm ở lớp ngoài cùng của hạ tầng mạng, làm nhiệm vụ cung cấp đầu cắm cáp vật lý trực tiếp cho các thiết bị đầu cuối như PC, máy in.
c) Mô hình Switch phân cấp (Core-Distribution-Access) này cho phép tập đoàn dễ dàng cắm thêm Switch mới để bổ sung nhân viên mà không làm đảo lộn cấu trúc tổng thể.
d) Rủi ro lớn nhất của mô hình tập trung theo hình sao phân cấp này là khi một Access Switch cục bộ bị hỏng, toàn bộ mạng của tập đoàn sẽ sập hoàn toàn.
Câu 18: Trong bài thực hành thiết kế mạng bằng phần mềm giả lập Packet Tracer, giáo viên đưa ra một yêu cầu đặc biệt: Học sinh phải kết nối 3 máy tính PC1, PC2, PC3 tạo thành mạng nội bộ mà KHÔNG được kéo thiết bị trung tâm (Hub/Switch) ra vùng làm việc, chỉ được dùng cáp truyền tải dữ liệu.
Nhận định:
a) Về lý thuyết topology, học sinh có thể lập một mạng hình sao (Star) bằng cách cắm cáp từ PC1 nối trực tiếp với PC2 và PC3 nếu PC1 có tới 2 cổng card mạng nội bộ.
b) Trên thực tế, do máy tính thông dụng chỉ có 1 cổng mạng (NIC), việc dùng 1 cáp cắm từ PC1 nối sang PC2, rồi từ PC2 nối cáp sang PC3 để thông mạng cho 3 máy là bất khả thi.
c) Mục đích sự ra đời của các thiết bị mạng trung tâm như Switch chính là để giải quyết các hạn chế vật lý về số lượng cổng giao tiếp trên máy tính.
d) Để thực hiện kết nối trên Packet Tracer từ PC vào máy tính, loại cáp giả lập phổ biến nhất học sinh dùng là Cáp quang (Fiber) thay vì Cáp đồng trục.
Câu 19: Doanh nghiệp sản xuất ABC có hai khu vực: Nhà điều hành và Xưởng đóng gói. Hai khu vực này cách nhau một khoảng sân rộng 180 mét. Hiện mỗi khu vực đã có một Switch chia mạng nội bộ riêng, cáp dùng cho hệ thống là cáp đồng Cat5e tiêu chuẩn (giới hạn truyền dữ liệu chất lượng cao trong khoảng 100 mét).
Nhận định:
a) Kỹ thuật viên cứ việc kéo trực tiếp 1 sợi cáp đồng Cat5e băng qua sân dài 180 mét nối hai Switch lại với nhau, mạng sẽ vẫn chạy mượt mà mà không lo rớt gói tin.
b) Do khoảng cách vượt quá 100m, giải pháp vật lý tốt nhất để đảm bảo kết nối mạng tốc độ Gigabit ổn định giữa hai khu vực này là kéo đường cáp quang.
c) Nếu vẫn muốn dùng cáp đồng Cat5e, bộ phận IT có thể đặt thêm một Switch trung gian (hoặc Repeater) vào trạm gác cách đó 90m để khuếch đại và tiếp sóng tín hiệu.
d) Switch trong xưởng đóng gói tự động tích hợp công nghệ phát sóng Microwave để liên kết không dây tầm xa 180m với Switch nhà điều hành mà không cần phụ kiện ngoài.
Câu 20: Công ty XYZ trang bị hệ thống điện thoại bàn dùng công nghệ tổng đài IP (VoIP) cho toàn bộ 100 nhân viên trong tòa nhà văn phòng, cho phép gọi điện thoại nội bộ hoàn toàn miễn phí. Điểm đặc biệt là các điện thoại IP này cắm cáp trực tiếp vào chung hệ thống Switch của mạng máy tính công ty.
Nhận định:
a) Tín hiệu giọng nói thu từ điện thoại IP của nhân viên khi truyền qua mạng LAN đã được kỹ thuật số hóa thành các gói dữ liệu mạng (Packet).
b) Mặc dù cắm chung vào Switch với máy tính, nhưng dữ liệu giọng nói của VoIP hoàn toàn không sử dụng bộ giao thức chuẩn TCP/IP của mạng máy tính để định tuyến.
c) Hệ thống Switch của công ty sẽ làm nhiệm vụ truyền tải cả dữ liệu file Excel từ máy tính nhân viên và cả gói tin giọng nói từ điện thoại IP chạy qua chung một đường cáp vật lý.
d) Giám đốc IT chỉ cần mua đúng một chiếc Switch có 100 cổng kết nối vật lý là đủ để vận hành hệ thống mạng cho cả 100 máy tính bàn và 100 điện thoại IP này.
Câu 21: Phòng nhân sự của một trường đại học gồm 15 chuyên viên đang sử dụng mạng nội bộ để dùng chung cơ sở dữ liệu học bạ. Mạng được kết nối trung tâm bằng một thiết bị Hub cũ. Chuyên viên IT nhận thấy khi nhiều người cùng copy file học bạ lớn thì mạng báo tắc nghẽn, nên quyết định gỡ Hub ra và lắp một thiết bị Switch thay thế.
Nhận định:
a) Việc thay Hub bằng Switch không giúp ích gì cho vấn đề nghẽn mạng do cả hai thiết bị đều có phương thức truyền gói tin Broadcast dữ liệu ra tất cả các cổng giống hệt nhau.
b) Nhờ thay Switch mới, khi chuyên viên A gửi file học bạ cho chuyên viên B, Switch sẽ đọc luồng thông tin đích và gửi gói tin thẳng đến cổng cắm máy của B, không làm nghẽn máy C,. D.
c) Để Switch nhận diện được chính xác máy chuyên viên B cần gửi file đến tại mức liên kết dữ liệu, Switch sử dụng địa chỉ vật lý (MAC Address) của thẻ mạng.
d) Nếu trường đại học tuyển thêm 5 chuyên viên nhân sự nữa nhưng Switch hiện tại đã hết cổng cắm cáp, IT có thể lấy thêm 1 Switch khác nối cáp vào Switch cũ để mở rộng mạng vật lý.
Câu 22: Để phục vụ việc tổ chức kiểm tra đánh giá trực tuyến tập trung, Ban giám hiệu quyết định xây dựng hạ tầng cho phòng học đa năng A1. Phòng có 40 máy tính để bàn (dành cho học sinh làm bài) và 1 máy trạm giáo viên. Yêu cầu thiết kế: Các máy làm bài kết nối độ ổn định tuyệt đối cao nhất, không bị giật lag ngắt quãng. Trường trang bị cho phòng 2 Switch (mỗi thiết bị 24 cổng) nối mạng cáp quang.
Nhận định:
a) Việc thiết kế phương án đi dây cáp mạng hữu tuyến từ các Switch đến 40 máy tính bàn đáp ứng yêu cầu độ ổn định cao hơn, giảm nhiễu tốt hơn dùng card mạng Wi-Fi.
b) Do phòng học có 41 máy tính mà Switch chỉ có 24 cổng, kỹ thuật viên cần dùng cáp UTP nối liên kết (cascading) cổng của 2 Switch lại với nhau để cung cấp đủ khe cắm cáp máy tính.
c) Nhờ sử dụng kết nối chung một mạng Switch, máy trạm của giáo viên có thể chia sẻ đề thi (dạng file PDF) nội bộ vào máy của 40 học sinh kể cả khi bị rớt mạng cáp quang Internet.
d) Thiết bị Modem cáp quang cấp cho phòng chức năng này có khả năng phủ sóng (Access Point) cho 40 máy bàn làm bài kiểm tra trực tuyến.
Câu 23: Ban CNTT của một tập đoàn thiết kế dự án lắp mạng cho phòng đào tạo (40 laptop) và phòng nghiên cứu (20 máy tính để bàn). Tại máy chủ phòng điều hành, họ sử dụng một Router cấu hình cao cấp phát dải mạng IP. Để phủ mạng cho phòng đào tạo, họ treo 2 thiết bị Access Point trần nhà. Để nối mạng cho phòng nghiên cứu, họ sử dụng 1 Switch 24 cổng cắm dây âm tường. Tất cả AP và Switch đều nối cáp về Router tổng.
Nhận định:
a) Phương án sử dụng 2 thiết bị Access Point phát sóng Wi-Fi cho 40 laptop ở phòng đào tạo là giải pháp tối ưu tính di động, tránh dây cáp bừa bộn trong phòng học.
b) 20 máy tính để bàn ở phòng nghiên cứu được kết nối thành hệ thống mạng LAN vật lý thông qua thiết bị tập trung là Switch 24 cổng.
c) Thiết bị Router tổng được đặt tại phòng điều hành trong tình huống này chỉ có nhiệm vụ phát Wi-Fi cho tòa nhà chứ không có khả năng định tuyến các gói dữ liệu.
d) Khi một laptop ở phòng đào tạo truyền file cho máy để bàn ở phòng nghiên cứu, dữ liệu phải qua trình tự truyền dẫn vô tuyến từ laptop đến AP, rồi mới đi qua dây cáp xuống Router.
Câu 24: Thư viện mở của một trung tâm văn hóa được thiết lập hệ thống mạng cho sinh viên tự học gồm: 1 máy in mạng (có cổng Ethernet) dùng chung, 10 máy tính để bàn để tra cứu danh mục sách (nối cáp vào Switch), và 1 mạng Wi-Fi cung cấp Internet miễn phí qua thiết bị Access Point. Thiết bị Router chính của trung tâm quản lý toàn bộ luồng mạng này.
Nhận định:
a) Máy in mạng phục vụ 10 máy tính bàn tra cứu sách không cần kết nối trực tiếp vật lý vào từng máy tính, mà chỉ cần cắm cáp đồng vào Switch trung tâm của hệ thống.
b) Thiết bị Access Point đóng vai trò cung cấp cổng kết nối giao tiếp mạng không dây (WLAN) cho các thiết bị cá nhân di động của sinh viên khi đến thư viện tự học.
c) Thiết bị Router chính quản lý toàn bộ luồng thông tin vào - ra mạng Internet của cả 10 máy tính cắm dây và các điện thoại kết nối qua Access Point.
d) Nếu tháo thiết bị Access Point xuống và thay bằng Hub, các laptop cá nhân của sinh viên vẫn kết nối được mạng Wi-Fi của thư viện với tốc độ nhanh hơn.
Câu 25: Nhóm giáo viên thực hành môn Công nghệ mạng lắp ráp hoàn thiện một mạng LAN hình sao (Star Topology) cơ bản trong xưởng thực hành: gồm 15 máy tính trạm cấu hình đồng bộ, cắm dây cáp mạng chuẩn Cat5e nối tập trung về một thiết bị Switch chia cổng duy nhất ở giữa tủ rack. Hệ thống mạng thử nghiệm này không kết nối với bất kỳ đường truyền Modem/Router Internet nào ra bên ngoài.
Nhận định:
a) Mạng LAN hình sao là mô hình mạng máy tính rất phổ biến, trong đó thiết bị trung tâm (Switch) xử lý thông tin đi qua hệ thống điều tiết mạng nội bộ.
b) Mỗi chiếc card mạng (NIC) trên 15 máy tính trạm đều được nhà sản xuất gán cho một địa chỉ định danh vật lý duy nhất, gọi là địa chỉ MAC Address.
c) Mặc dù các dây cáp mạng đã báo đèn tín hiệu vật lý, 15 máy tính này tuyệt đối không thể gửi và nhận file qua lại nếu không có thiết bị định tuyến Internet cấp mạng ngoài.
d) Một trong những nhược điểm rủi ro lớn nhất của mô hình tập trung này là nếu thiết bị Switch trung tâm ở tủ rack bị chập điện cháy nguồn, 15 máy tính trạm sẽ bị cô lập hoàn toàn.